Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4ac + 4 t trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, IIIA hạch nách dương tính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
Mục tiêu: (1) Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II,
IIIA hạch nách dương tính. (2) Nhận xét một số tác dụng không mong muốn của phác đồ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu có theo dõi dọc trên 39
bệnh nhân nữ mắc UTV giai đoạn II, IIIA được phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi,
có hạch nách dương tính được điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4AC + 4T tại Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh từ tháng
1 năm 2013 đến tháng 6 năm 2019.
Kết quả: Sống còn toàn bộ tích lũy là 83,6%. Sống còn không bệnh tích lũy là 75,6%. Sống còn không
bệnh và sống còn toàn bộ giảm dần theo sự tăng lên của kích thước u, hạch di căn càng nhiều thì sống
còn càng giảm, thụ thể ER và/PR (+) có tiên lượng tốt hơn (-), bệnh ở giai đoạn II tốt hơn giai đoạn IIIA
(p<0,05). Độc tính chủ yếu của phác đồ 4AC + 4T: Tỉ lệ hạ bạch cầu là 64,1%, hạ độ 3,4 là 10,1%. Tỉ lệ hạ
bạch cầu hạt là 61,5%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ huyết sắc tố là 51,3%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ tiểu cầu
là 17,9%, không có hạ độ 3,4. Tỉ lệ tăng men gan là 43,6%, nhưng không gặp tăng độ 3,4. Tăng Creatinin
máu chỉ gặp độ 1 với tỉ lệ 5,1%. Nôn và buồn nôn chiếm 87%, viêm miệng 30,8%, tiêu chảy là 38,4%, đau
cơ 87%, rối loạn thần kinh ngoại vi 74,4%, phù ngoại vi 38,5%.
Kết luận: Phác đồ 4AC + 4T mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú bổ trợ có hạch nách dương
tính và độc tính ở mức độ chấp nhận được.
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4ac + 4 t trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, IIIA hạch nách dương tính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
Bệnh viện Trung ương Huế 36 Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4 T... Nghiên cứu ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HÓA TRỊ BỔ TRỢ PHÁC ĐỒ 4AC + 4 T TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN II, IIIA HẠCH NÁCH DƯƠNG TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÀ TĨNH Võ Văn Phương1*, Nguyễn Văn Khoa1, Trần Thị Thanh Hoa1 DOI: 10.38103/jcmhch.2020.65.6 TÓM TẮT Mục tiêu: (1) Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, IIIA hạch nách dương tính. (2) Nhận xét một số tác dụng không mong muốn của phác đồ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu có theo dõi dọc trên 39 bệnh nhân nữ mắc UTV giai đoạn II, IIIA được phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi, có hạch nách dương tính được điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4AC + 4T tại Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 6 năm 2019. Kết quả: Sống còn toàn bộ tích lũy là 83,6%. Sống còn không bệnh tích lũy là 75,6%. Sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ giảm dần theo sự tăng lên của kích thước u, hạch di căn càng nhiều thì sống còn càng giảm, thụ thể ER và/PR (+) có tiên lượng tốt hơn (-), bệnh ở giai đoạn II tốt hơn giai đoạn IIIA (p<0,05). Độc tính chủ yếu của phác đồ 4AC + 4T: Tỉ lệ hạ bạch cầu là 64,1%, hạ độ 3,4 là 10,1%. Tỉ lệ hạ bạch cầu hạt là 61,5%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ huyết sắc tố là 51,3%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ tiểu cầu là 17,9%, không có hạ độ 3,4. Tỉ lệ tăng men gan là 43,6%, nhưng không gặp tăng độ 3,4. Tăng Creatinin máu chỉ gặp độ 1 với tỉ lệ 5,1%. Nôn và buồn nôn chiếm 87%, viêm miệng 30,8%, tiêu chảy là 38,4%, đau cơ 87%, rối loạn thần kinh ngoại vi 74,4%, phù ngoại vi 38,5%. Kết luận: Phác đồ 4AC + 4T mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú bổ trợ có hạch nách dương tính và độc tính ở mức độ chấp nhận được. Từ Khóa: Ung thư vú, hóa trị bổ trợ 4AC + 4T, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh. ABSTRACT EFFECTIVENESS AND TOXICITY OF 4AC + 4T REGIMEN AS ADJUVANT CHEMO- THERAPY FOR STAGE II, IIIA BREAST CANCER PATIENTS WITH AXILLARY LYMPH NODE POSITIVE AT HA TINH GENERAL HOSPITAL Vo Van Phuong1*, Nguyen Van Khoa1, Tran Thi Thanh Hoa1 Objectives: (1) Evaluate the efficacy of 4AC+4T regimen as adjuvant chemotherapy for stage II, IIIA breast cancer patients with axillary lymph node positive. (2) Describe toxicity of the regimen. 1 Khoa Ung bướu – Y học hạt nhân, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh - Ngày nhận bài (Received): 30/9/2020; Ngày phản biện (Revised): 05/10/ 2020; - Ngày đăng bài (Accepted): 04 /12 /2020 - Người phản hồi (Corresponding author): Võ Văn Phương - Email: phuongngoai@gmail.com; ĐT: 0905853368 Bệnh viện Trung ương Huế Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 37 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Tại Việt Nam ung thư vú (UTV) là bệnh lý ác tính đứng hàng đầu ở nữ giới với khoảng 15.229 trường hợp mới mắc và 6.103 ca tử vong [1]. Tỉ lệ mắc đang có xu hướng gia tăng nhưng tỉ lệ tử vong lại có xu hướng giảm nhờ những thành tựu đạt được trong phòng bệnh, phát hiện sớm và điều trị, đặc biệt là các tiến bộ trong điều trị hệ thống [2]. Đối với UTV giai đoạn IIIA trở xuống thì phẫu thuật là phương pháp được lựa chọn đầu tiên, hóa trị bổ trợ sau phẫu thuật giúp đề phòng bệnh tái phát. Phác đồ bổ trợ 4AC+4T (là phác đồ phối hợp 3 loại hóa chất: Doxorubicin, Cyclophosphamid x 4 chu kỳ + Paclitaxel x 4 chu kỳ) trên bệnh nhân UTV đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là hiệu quả cải thiện thời gian sống còn không bệnh và giảm tỉ lệ tái phát với độc tính chấp nhận được [3]. Phác đồ này đã được áp dụng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2013 đến nay, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của phác đồ. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhắm đến 2 mục tiêu: (1). Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC+4 T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, IIIA hạch nách dương tính. (2). Nhận xét một số tác dụng không mong muốn của phác đồ. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu: 39 bệnh nhân nữ mắc UTV giai đoạn II, IIIA được phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi, có hạch nách dương tính được hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4T tại Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 6 năm 2019. 2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu và tiến cứu có theo dõi dọc, lấy mẫu toàn bộ. 2.3. Các bước tiến hành: Chẩn đoán UTV giai đoạn II, IIIA theo AJCC 2010; Phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi; Hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC+4T; Các điều trị chuẩn tiếp theo; Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của phác đồ sau điều trị. 2.4. Xử lý số liệu: Phần mềm SPSS 22.0. Sử dụng các thuật toán thống kê mô tả. Khảo sát sống còn bằng phương pháp Kaplan-meier và kiểm định test Log-rank với p < 0,05 được xác định là có ý nghĩa thống kê. 2.5. Đạo đức nghiên cứu: Đối tượng tham gia là hoàn toàn tự nguyện. Các thông tin về tình trạng bệnh và thông tin cá nhân khác của bệnh nhân được giữ bí mật. Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh nhân. Methods: Retrospective and prospective descriptive longitudinal study, in 39 stage II-III breast cancer patients with lymph node positive underwent modified radical mastectomy and axillary lymph node dissec- tion, treated with 4AC + 4T regimen at Ha Tinh General Hospital from January 2013 to June 2019. Results: Overall survival was 83.6%. Disease-free survial was 75.6%. DFS and OS are inversely pro- portional to tumor size, the number of metastatic lymph nodes, ER and/PR positive have a better prognosis than ER/PR negative, stage II disease have better prognosis than stage IIIA (p<0.05). Toxicities of AC+4T: Leukopenia in 64.1% of patients, with 10,1% was grade 3, 4. Neutropenia in 61.5% of patients, with 7,6% was grade 3, 4. Hypopigmentation in 51.3% of patients, with 7,6% was grade 3, 4. Thrombocytopenia in 17.9% of patients. Transaminase elevation in 43.6% of patients, no seen grade 3, 4. Increased blood creatinine was only recorded at grade 1 at 5.1%. Vomiting and nausea 87%, stomatitis 30.8%, diarrhea 38.4%, muscle pain 87%, peripheral neuropathy 74.4% peripheral edema 38.5%. Conclusion: The 4AC + 4T regimen shows high efficacy and a acceptable toxicity in the treatment of stage II, IIIA breast cancer with axillary lymph node positive. Key words: Breast cancer, 4AC+4T adjuvant chemotherapy, Ha Tinh General Hospital. Bệnh viện Trung ương Huế 38 Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4 T... III. KẾT QUẢ 3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Tuổi trung bình là 51,9 ± 3,1; Độ tuổi hay gặp 50 - 59; Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu ở giai đoạn II (76,9%); Vị trí một phần tư trên ngoài thường gặp nhất, chiếm 48,7%; Kích thước u ≤ 5 cm chiếm đa số (69,2%); Số bệnh nhân có tỉ lệ di căn từ 1-3 hạch là nhiều nhất chiếm 64,1%; Độ mô học 2 chiếm tỉ lệ cao nhất 61,5%; Có 2/3 bệnh nhân có thụ thể ER và/hoặc PR dương tính. 3.2. Đánh giá kết quả của phác đồ hóa trị bổ trợ 4 AC + 4 T 3.2.1. Sống còn không bệnh (DFS) tích lũy theo thời gian Trong số 39 bệnh nhân nghiên cứu, có 4 bệnh nhân tái phát hoặc di căn. Bệnh nhân được điều trị đầu tiên tháng 3 năm 2013, với thời gian theo dõi trung bình 43 tháng, thời gian theo dõi dài nhất gần 71 tháng. Trong đó có một bệnh nhân tái phát tại chỗ sau phẫu thuật, 2 bệnh nhân tái phát di căn hạch xa, 1 bệnh nhân tái phát di căn xương. Biểu đồ 1: Sống còn không bệnh tích lũy theo thời gian Trung bình thời gian sống còn không bệnh ước tính theo Kaplan Meier: 64,2 ± 2,1 tháng (95% CI: 60,0-68,4). Tỉ lệ sống còn không bệnh tích lũy 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%; 97%; 86,4%; 75,6%. 3.2.2. Sống còn không bệnh theo một số đặc điểm bệnh nhân Bảng 1: Sống còn không bệnh theo một số đặc điểm bệnh nhân Đặc điểm Số bn DFS Trung bình DFS (tháng) p (Log-rank test) n % Kích thước u 0,002≤ 5cm 27 26 96,3 67,5 ± 1,4 > 5cm 12 9 75,0 48,9 ± 2,6 Di căn hạch 1-3 hạch 25 24 96,0 67,5 ± 1,4 0,002 4-9 hạch 14 11 78,6 48,7 ± 2,4 ER, PR ER và/PR (+) 26 25 96,2 67,5 ± 1,4 0,002 ER và/PR (-) 13 10 76,9 48,9 ± 2,6 HER 2 HER 2 (+) 15 14 93,3 66,5 ± 2,3 0,438 HER 2 (-) 24 21 87,5 58,6 ± 2,2 Giai đoạn Giai đoạn II 30 29 96,7 67,2 ± 1,5 0,002 Giai đoạn IIIA 9 6 66,7 49,5 ± 4,6 Kích thước u; Số lượng hạch di căn; Thụ thể nội tiết ER, PR và giai đoạn bệnh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian sống còn không bệnh. 3.2.3. Sống còn toàn bộ (OS) tích lũy theo thời gian Kết thúc theo dõi vào thời điểm tháng 6 năm 2019 có 3 bệnh nhân tử vong. Bệnh viện Trung ương Huế Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 39 Trung bình thời gian sống còn toàn bộ ước tính theo Kaplan Meier: 65,4 tháng (95% CI: 61,6-69,1). Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%; 96,6%; 92%; 83,6%. 3.2.4. Sống còn toàn bộ theo các đặc điểm của bệnh nhân Bảng 2: Kết quả sống còn toàn bộ theo các đặc điểm của bệnh nhân Đặc điểm Số bn OS Trung bình OS (tháng) p (Log-rank test) n % Kích thước u 0,049≤ 5cm 27 26 96,3 67,5 ± 1,4 > 5cm 12 10 83,3 50,1 ± 2,3 Di căn hạch 1-3 hạch 25 24 96,0 67,6 ± 1,3 0,030 4-9 hạch 14 12 85,7 49,6 ± 2,1 ER, PR ER và/PR (+) 26 25 96,2 67,5 ± 1,4 0,041 ER và/PR (-) 13 11 84,6 49,8 ± 2,5 HER 2 HER 2 (+) 15 15 100 63,8 ± 2,4 0,139 HER 2 (-) 24 21 87,5 59,0 ± 2,0 Giai đoạn Giai đoạn II 30 28 96,7 67,5 ± 1,4 0,007 Giai đoạn IIIA 9 6 77,8 51, ± 5,1 Kích thước u; Số lượng hạch di căn; ER, PR và giai đoạn bệnh có mối liên quan với thời gian sống còn toàn bộ. 3.3. Một số độc tính của phác đồ 4AC + 4T (Theo CTCAE năm 2010) [6] Bảng 3: Bảng đánh giá độc tính theo tiêu chuẩn CTCAE 2010 Độc tính Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4 Chung n % n % n % n % % Hạ bạch cầu 14 39,5 7 17,9 3 7,6 1 2,5 64,1 Hạ BC hạt 13 33,3 8 20,5 2 5,1 1 2,5 61,5 Hạ Hb 12 30,7 5 12,8 2 5,1 1 2,5 51,3 Hạ TC 6 15,1 1 2,5 0 0 0 0 17,9 Gan 13 33,3 4 10,2 0 0 0 0 43,6 Thận 2 5,1 0 0 0 0 0 0 5,1 Biểu đồ 2: Sống còn toàn bộ tích lũy theo thời gian Bệnh viện Trung ương Huế 40 Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4 T... Các độc tính trên hệ tạo huyết gặp nhiều nhất và nặng nhất là hạ bạch cầu và bạch cầu hạt. Tăng men gan gặp 43,6% nhưng chỉ gặp độ 1 và 2, Độc tính trên thận ít gặp. Bảng 4: Đánh giá độc tính ngoài hệ tạo huyết theo tiêu chuẩn CTCAE 2010 Độc tính Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3 Chung n % n % n % n % % Nôn, buồn nôn 4 10,3 25 61,4 10 25,6 0 0 87 Viêm miệng 27 69,2 10 25,7 2 5,1 0 0 30,8 Ỉa chảy 24 61,5 10 25,6 5 12,8 0 0 38,4 Đau cơ 4 10,3 29 74,4 5 12,8 1 2,5 87 RLTK ngoại vi 10 25,6 0 0 28 71,8 1 2,5 74,4 Phù ngoại vi 24 61,5 15 38,5 0 0 0 0 38,5 Nôn, buồn nôn, viêm miệng chỉ gặp độ 1, 2 không có bệnh nhân nào gặp độ 3, 4. Các độc tính rối loạn thần kinh ngoại vi và đau cơ gặp đa số, ngoài độ 1, 2 là chủ yếu còn gặp cả độ 3. Phù ngoại vi gặp 38,5%, nhưng tất cả chỉ ở độ 1. IV. BÀN LUẬN 4.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này khá tương đồng với một số nghiên cứu của các tác giả khác tại Việt Nam khi nghiên cứu về điều trị hóa chất bổ trợ trong ung thư vú. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi có một vài điểm khác biệt, chẳng hạn như tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 52 tuổi, độ tuổi gặp nhiều nhất là 50-59. Tuổi trung bình cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Đ.T.K. Anh là 45,7 tuổi [4]. Tác giả N.T. Sang là 49 tuổi [5], có thể nói tuổi hay gặp UTV những năm gần đây cao hơn so với trước. 4.2. Hiệu quả điều trị của phác đồ 4AC - 4 T 4.2.1. Hiệu quả sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ Nghiên cứu của chúng tôi trên 39 bệnh nhân UTV giai đoạn II, IIIA sau khi đã được phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi được điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4AC×4 chu kỳ sau đó 4 chu kỳ Paclitaxel, kết thúc hóa trị bệnh nhân được tiếp tục điều trị khác theo phác đồ chuẩn. Trong số 39 bệnh nhân nghiên cứu, tính đến thời điểm kết thúc nghiên cứu tháng 6 năm 2019 có 4 bệnh nhân tái phát hoặc di căn. Bệnh nhân được theo dõi dài nhất gần 71 tháng, trung bình 43 tháng. Trong đó có một bệnh nhân tái phát tại chỗ sau phẫu thuật, 2 bệnh nhân tái phát di căn hạch xa, 1 bệnh nhân tái phát di căn xương. Tỉ lệ sống còn không bệnh tích lũy 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%; 97%; 86,4%; 75,6%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%; 96,6%; 92%; 83,6%. Theo Đ.T.K. Anh tỉ lệ sống còn không bệnh sau 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm tương ứng là 90,6%; 79,1%; 77%; 73,4%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ sau 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm tương ứng là 98,1%; 94,3%; 87,8%; 84,1% [4]. Tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ thấp hơn kết quả của chúng tôi tuy nhiên điều này có thể lý giải được do giai đoạn bệnh muộn hơn so với chúng tôi. Theo N. T. Huyền khi đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC+4T có kết hợp trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III có Her 2 neu dương tính cho kết quả tỉ lệ sống còn không bệnh 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 98,4%; 95,2%; 92,1%; 92,1%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%; 100%; 98,4%; 98,4% [7]. Kết quả này cao hơn rõ rệt so với nghiên cứu của chúng tôi. Có thể nói việc bổ sung Tratuzumab vào phác đồ đã cải thiện đáng kể thời gian sống còn cho bệnh nhân. Bệnh viện Trung ương Huế Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 41 4.2.2. Thời gian sống còn và một số đặc điểm của bệnh nhân Chúng tôi phân tích sống thêm không bệnh và sống còn toàn bộ bằng phương pháp Kaplan - Maier với một số yếu tố như tuổi, kích thước u, giai đoạn bệnh, độ mô học, tình trạng di căn hạch Cho thấy: Kích thước u càng lớn thì sống còn càng giảm, u ≤ 5cm có trung bình thời gian sống còn không bệnh là 67,5 ± 1,4 tháng, u trên 5cm là 48,9± 2,6 tháng, p < 0,05. Trung bình thời gian sống còn toàn bộ nhóm u ≤ 5cm là 67,5 ± 1,4 tháng, nhóm u > 5cm: 50,1 ± 2,3 tháng, với p < 0,05; Di căn hạch càng nhiều thì thời gian sống còn càng giảm, di căn từ 1-3 hạch có trung bình thời gian sống còn không bệnh là 67,5 ± 1,4 tháng, trên 3 hạch là 48,7 ± 2,4 tháng, p < 0,05, thời gian sống còn toàn bộ thì nhóm di căn từ 1-3 hạch có thời gian sống còn toàn bộ trung bình 67,6 ± 1,3, tháng nhóm di căn từ 4-9 hạch là 49,6 ± 2,1 tháng, với p < 0,05; Thụ thể nội tiết ER, PR (+) có tiên lượng tốt hơn so với âm tính, sống còn không bệnh trung bình nhóm ER và/hoặc PR (+) là 67,5 ± 1,4 tháng, trái lại ở nhóm ER PR(-) là 48,9 ± 2,6 tháng, p < 0,05. Sống còn toàn bộ trung bình nhóm ER và/PR (+) là 63,8 ± 2,4 tháng, nhóm ER PR (-) là 59,0 ± 2,0 tháng, với p < 0,05. Trong nghiên cứu phân tích gộp B-31/N9831 (2011) các tác giả cho thấy mối liên quan về sống thêm không bệnh với một số yếu tố như kích thước u, tình trạng di căn hạch nách, độ mô học [8]. 4.3. Một số tác dụng không mong muốn của phác đồ 4.3.1. Độc tính trên hệ tạo huyết Tất cả các bệnh nhân đều hoàn thành 8 chu kỳ hóa chất, không bệnh nhân nào phải ngừng điều trị do độc tính không hồi phục. Tất cả các bệnh nhân đều được điều trị đủ liều. Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi phân tích trên tổng số 39 bệnh nhân. Độc tính hạ bạch cầu độ 3/4 là 10,1%, hạ bạch cầu hạt độ 3/4 là 7,6%, tỷ lệ này thấp hơn so với tác giả N.T. Sang khi sử dụng 3 thuốc cùng lúc (tỷ lệ hạ bạch cầu độ 3/4 là 32,7%, hạ bạch cầu hạt độ 3/4 là 34,4%) [5], tỷ lệ hạ huyết sắc tố độ 3/4 là 7,6%, không có hạ tiểu cầu độ 3/4. Hiện tại với sự phát triển của thuốc tăng trưởng bạch cầu và tăng trưởng hồng cầu thì độc tính hạ bạch cầu và hạ huyết sắc tố đã được giải quyết. 4.3.2. Độc tính ngoài hệ tạo huyết Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tỉ lệ bệnh nhân có tăng men gan là 43,6%. Các thuốc hóa chất được dùng trong nghiên cứu chủ yếu được chuyển hóa qua gan và thải trừ qua thận. Trong đó, doxorubicin được chuyển hóa ở gan nhờ men cyt.P450 và được thải trừ tới 50% qua đường mật. Nghiên cứu này tỉ lệ bệnh nhân có tăng men gan là 43,6%, nhưng chỉ gặp độ 1, độ 2 không gặp độ 3, độ 4 và chủ yếu xảy ra ở chu kỳ cuối của quá trình điều trị nên không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị vì tăng men gan. Độc tính trên thận hầu như không có chỉ có 5,1% tăng Creatinin máu độ 1, không có bệnh nhân nào phải giảm liều và ngừng điều trị vì độc tính này. V. KẾT LUẬN 1. Kết quả phác đồ hóa trị bổ trợ 4AC + 4T Tỉ lệ sống còn toàn bộ tích lũy là 83,6%. Tỉ lệ sống còn không bệnh tích lũy là 75,6%. Thời gian sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ giảm dần theo sự tăng lên của kích thước u, hạch di căn càng nhiều thì sống còn càng giảm, ER và/PR (+) có tiên lượng tốt hơn ER và/PR (-), giai đoạn II tốt hơn giai đoạn IIIA. 2. Một số tác dụng không mong muốn của phác đồ 4AC + 4T Tỉ lệ hạ bạch cầu là 64,1%, hạ độ 3,4 là 10,1%. Tỉ lệ hạ bạch cầu hạt là 61,5%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ huyết sắc tố là 51,3%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ tiểu cầu là 17,9%, không có hạ độ 3,4. Tỉ lệ tăng men gan là 43,6%, nhưng chỉ có tăng độ 1,2. Tăng Creatinin máu chỉ gặp độ 1 với tỉ lệ 5,1%. Nôn và buồn nôn chiếm 87%, viêm miệng 30,8%, tiêu chảy là 38,4%, đau cơ 87%, rối loạn thần kinh ngoại vi 74,4%, phù ngoại vi 38,5%. Phác đồ 4AC + 4T mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú bổ trợ có hạch nách dương tính và độc tính ở mức độ chấp nhận được. Bệnh viện Trung ương Huế 42 Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020 Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4 T... 1. Globocan (2018), Breast Cancer - Estimated Incidence, mortality and prevalence Worldwide 2018. 2. D’Orsi CJ, Sickles EA, Mendelson EB, Morris EA, et al (2013). American College of Radiology Breast Imaging Reporting and Data System BI-RADS, 5th ed, (Eds), American Colege of Radiology, Reston, VA, 5: 758-61. 3. Nguyễn Diệu Linh (2013). “Nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn II, IIIA bằng phác đồ hóa chất bổ trợ TAC và AC tại bệnh viện K”, Luận án tiến sỹ y học. Trường Đại Học Y Hà Nội: 87-89. 4. Đỗ Thị Kim Anh (2008), “Đánh giá kết quả điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4 AC - 4 paclitaxel trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III tại bệnh viên K” Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Y Hà Nội. 5. Nguyễn Thị Sang (2016), “Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ TAC trong bệnh ung thư vú giai đoạn II,III hạch nách dương tính tại Bệnh viện K”, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Y Hà Nội. 6. U.S Department of Health and Human Service (2010). Common Terminology Criteria for Adverse Events (CTCAE) version 4.0. <http:// evs.nci.nih.gov/ftp1/CTCAE/About.html>. accessed 14 June 2019. 7. Phùng Thị Huyền (2016), “Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ kết hợp Tratuzumab trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III ”, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Y Hà Nội. 8. Perez E.A, Romond E.H, Suman V.J et al (2011). Four-year follow-up of trastuzumab plus adjuvant chemotherapy for operable human epidermal growth factor receptor 2-positive breast cancer: joint analysis of data from NCCTG N9831 and NSABP B-31. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol, 29(25): 3366-3373. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
- danh_gia_ket_qua_hoa_tri_bo_tro_phac_do_4ac_4_t_tren_benh_nh.pdf